|
There are no translations available.
College, university rồi institute khác nhau ra sao, làm thế nào lấy bằng ĐH
của Mỹ theo hình thức từ xa, ĐH Mỹ sẽ cấp những loại bằng nào?... Dưới đây là
một số thông tin về giáo dục ĐH Mỹ.
Thế nào là college,
university và institute?
Có thể gọi mọi tổ chức giáo dục ĐH ở Mỹ là
college, university và institute. College (CĐ hoặc ĐH) và institute (viện) không
kém hơn so với university (ĐH). Hiện, Mỹ có hơn 3.000 trường ĐH, CĐ với số SV
theo học tại gần 15 triệu.
Thường thì college có xu hướng nhỏ hơn so với
university và không cấp bằng tiến sĩ. Trong khi đó, university cung cấp rất
nhiều chương trình đào tạo sau ĐH, bao gồm cả bằng tiến sĩ. University chú trọng
vào nghiên cứu cũng như đào tạo trong khi các college chú trọng vào đào tạo. Các
university cung cấp chương trình đào tạo tiến sĩ thường được gọi là ĐH nghiên
cứu.
Nhiều college là độc lập, cấp bằng cử nhân cho những SV đã hoàn
thành chương trình học kéo dài 4 năm. Tuy nhiên, college cũng có thể là bộ phận
của university. Một trường ĐH lớn gồm nhiều college; các chương trình đào tạo cử
nhân và sau ĐH ở nhiều lĩnh vực; một hoặc nhiều trường chuyên nghiệp (chẳng hạn
trường luật hoặc trường y) và một hoặc nhiều cơ sở nghiên cứu. Mỗi trường chịu
trách nhiệm về các chương trình mà họ cấp bằng. Chẳng hạn, ĐH New York có hơn 60
trường tại bang New York.
Một viện thường chuyên về các chương trình đào
tạo trong một nhóm chuyên ngành liên quan chặt chẽ; chẳng hạn viện công nghệ,
viện thời trang, viện nghệ thuật và thiết kế...
Các trung tâm nghiên cứu
cung cấp cơ hội nghiên cứu và đạo tạo, trong đó có cả sau ĐH. Các trung tâm có
thể hoặc không trực thuộc các trường ĐH.
Trường CĐ cộng đồng (community
college hay junior college) cung cấp chương trình đào tạo từ một tới ba năm,
phần lớn là hai năm. Có hai loại chương trình đào tạo ở những trường này. Một
chương trình gồm các khoa học giống như hai năm đầu ở trường CĐ, ĐH hệ bốn năm.
Mục đích là chuẩn bị để SV tiếp tục nghiên cứu thêm tại trường ĐH và CĐ. Chương
trình còn lại chuyên về đào tạo nghề.
Mỹ có khoảng 1.150 trường CĐ cộng
đồng. Khoảng 3/4 trong số này là trường công. Khi tốt nghiệp, SV được cấp bằng
associate degree.
Bốn loại bằng cơ bản
Các trường ĐH, CĐ
tại Mỹ cấp bốn loại bằng cơ bản cho học viên:
Bằng associate degree được
trao cho SV sau khi hoàn tất hai năm nghiên cứu, chủ yếu trong lĩnh vực nghệ
thuật và khoa học.
Bằng cử nhân: được trao cho SV sau 4 năm nghiên cứu.
Có nhiều loại bằng cử nhân song phổ biến nhất là bằng cử nhân nghệ thuật (B.A)
và cử nhân khoa học (B.S). Nhiều trường còn cấp bằng chuyên biệt. Chẳng hạn như:
cử nhân giáo dục hoặc kiến trúc. SV có thành tích xuất sắc được trao bằng có chữ
Latinh cum laude (xuất sắc) hoặc magna cum laude (xuất sắc nhất).
Bằng
thạc sĩ: để có được bằng này, cử nhân cần nghiên cứu sâu hơn trong 1-2 năm.
Bằng tiến sĩ: có hai loại khác nhau. Một loại chuyên nghiệp trong các
nghề nhất định; chẳng hạn tiến sĩ y khoa, tiến sĩ giáo dục. Loại còn lại là bằng
tiến sĩ nghiên cứu, chỉ ra rằng: một người tinh thông một lĩnh vực hiểu biết
rộng và kỹ thuật nghiên cứu khoa học.
4/5 sinh viên theo học trường
công lập
Dù là công lập hay tư thục thì các trường đều phụ thuộc vào
ba nguồn thu chính: học phí, tài trợ tư nhân và trợ cấp của Chính phủ.
Hơn 60% học sinh tốt nghiệp trung học tiếp tục theo học ở bậc cao hơn và
khoảng 4/5 tổng SV theo học tại các trường ĐH, CĐ công lập.
Các trường
ĐH công lập còn được gọi là trường ĐH bang. Các bang đều có trường ĐH riêng. ĐH
công lập thường có quy mô rất lớn với số SV theo học lên tới 20.000 hoặc nhiều
hơn. Do ĐH công lập chủ yếu được hỗ trợ tài chính từ chính quyền bang nên SV
(người sống và trả thuế tại bang đó) thường phải trả học phí thấp hơn so với SV
bên ngoài bang.
SV quốc tế được coi là công dân ngoài bang nên không
được giảm học phí khi theo học tại các trường ĐH công lập.
Các trường
ĐH, CĐ tư thục phụ thuộc vào học phí, lợi tức đầu tư, tài trợ tư nhân và các hợp
đồng nghiên cứu. Học phí tại các trường này thường cao hơn so với ĐH công lập và
mức thu là như nhau đối với mọi SV, cả ngoài bang lẫn trong bang. Thường thì ĐH
tư có số SV chưa tới 20.000.
25% các trường ĐH và CĐ nằm dưới sự quản lý
của các nhóm tôn giáo. Phần lớn trường nằm trong diện này tiếp nhận SV thuộc mọi
tín ngưỡng. Tất cả trường ĐH, CĐ của các nhóm tôn giáo và trường chỉ dành cho
nam hoặc nữ đều được xếp là ĐH tư.
Ngoại trừ yếu tố tài chính, bản chất
công hay tư của một trường ĐH không ảnh hưởng tới việc SV lựa chọn chương trình
học. Các chương trình chất lượng cao tồn tại ở cả hai loại hình trường ĐH, CĐ.
Chẳng hạn, ĐH California và Virginia thường được xếp hạng ngang bằng với Liên
đoàn Ivy - một hiệp hội gồm 8 trường tư danh tiếng ở vùng Đông Bắc nước Mỹ.
Điều quan trọng hơn là sự quan tâm của trường đối với chương trình đào
tạo. Sự quan tâm đó thể hiện ở việc đảm bảo đội ngũ giảng viên hạng nhất cũng
như cung cấp cơ sở vật chất tiên tiến nhất: thư viện, phòng thí nghiệm, máy tính
và các thiết bị khác.
Một nhân tố quan trọng nữa trong việc lựa chọn môn
học là sự tồn tại của các khoa mạnh trong những chuyên ngành liên quan khác.
Theo ước tính, các trường ĐH ở Mỹ cung cấp hơn 1.000 chuyên ngành đào tạo. Các
trường ĐH chi trung bình 9-10% ngân sách hàng năm cho nghiên cứu, 2,5% cho thư
viện.
Phần lớn các trường ĐH và CĐ do hội đồng quản trị kiểm soát. Ban
quản trị của trường tư thường bầu các thành viên của họ. Nhà thờ cũng có thể bầu
ban quản trị của trường ĐH liên quan tới họ.
Ủy viên của các trường công
do thống đốc bang bổ nhiệm. Vài trò của hội đồng quản trị là thông qua các chính
sách giáo dục. Họ cũng bổ nhiệm Giám đốc điều hành của trường. Thường thì Giám
đốc điều hành chính là Hiệu trưởng của trường. Các quan chức khác trong hội đồng
chịu trách nhiệm về chương trình đào tạo, tuyển SV, quản lý tài chính.
Mỗi trường ĐH, CĐ có một Giám đốc tư vấn cho SV cũng như chỉ đạo về kỷ
luật. Mỗi trường CĐ hoặc trường riêng thuộc một trường ĐH đều có Giám đốc học
thuật, đứng đầu hội đồng giáo viên trong việc chuẩn bị giáo trình. Hội đồng giáo
viên được chia thành các khoa. Mỗi khoa có một chủ nhiệm và chủ nhiệm thường là
GS. Dưới chủ nhiệm là các GS khác, PGS và trợ giáo.
Tiếp nhận cả
người chưa tốt nghiệp trung học
Mỹ không có hệ thống trường quốc
gia, cũng không có các trường do liên bang điều hành, ngoại trừ học viện quân
sự. Tuy nhiên, Chính phủ hướng dẫn và tài trợ cho các chương trình giáo dục liên
bang mà cả trường công và tư tham gia. Bộ Giáo dục giám sát các chương trình
này.
Hệ thống giáo dục Mỹ được dựa trên triết lý rằng việc kiểm soát các
chức năng công cộng nên phân quyền gần như hoàn toàn cho các bang và cộng đồng
địa phương.
Mỗi bang đều thông qua luật giáo dục và thành lập hệ thống
trường công. Hầu như mọi bang đã chuyển quyền kiểm soát giáo dục công lập cho
các hội đồng giáo dục địa phương. Số hội đồng do chính quyền mỗi bang quyết
định. Hội đồng địa phương chịu trách nhiệm điều hành trường công, từ thuê giáo
viên, xây dựng trường sở cho tới hoạch địch về giáo trình.
Các bang cũng
bầu hoặc bổ nhiệm ủy ban giáo dục và ủy viên giáo dục, người đứng đầu Bộ giáo
dục mỗi bang. Ủy ban giáo dục đặt ra chính sách giáo dục cho cả bang và ủy viên
giám sát những chính sách đó có được thực thi hay không (ở cả trường công và
trường tư). Một số bang có ủy ban giáo dục riêng dành cho ĐH.
Nhiều bang
quy định thành lập ủy ban tư vấn công dân nhằm thúc đẩy sự tham gia của cộng
đồng vào việc điều hành các trường học. Trách nhiệm của họ là buộc các trường
học đáp ứng tiêu chuẩn địa phương. Thành viên của ủy ban thường là công dân và
chuyên gia giáo dục.
Các nhóm tư nhân khác có quyền kiểm soát gián tiếp
đối với giáo dục. Chẳng hạn, Hiệp hội giáo dục quốc gia Mỹ (gồm hơn 2 triệu giáo
viên và các nhà quản lý trường học) sử dụng ảnh hưởng để cải thiện chất lượng
trường học và giảng dạy, tăng lương cho giáo viên. Nhiều cơ quan khác đánh giá
trường trung học, CĐ và ĐH để xem họ có đáp ứng các tiêu chuẩn nhất định hay
không.
Các trường ĐH, CĐ cũng tiếp nhận cả phụ nữ và nam giới chưa tốt
nghiệp trung học. Mục đích là đáp ứng nhu cầu tiếp tục nâng cao trình độ của
những đối tượng này.
Theo Vietnamnet
Newer news items:
Older news items:
|